Chào Bạn Đến Với Trang Web Của Tuấn


Hồi Tưởng Về Ba Tôi

Ba tôi đã qua đời đến nay vừa tròn 20 năm … Người tên là Lê Văn Hà, sinh ngày 13 tháng 5 năm 1935 tại cố đô Huế, nguyên quán huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Năm 1935, theo âm lịch là năm Ất Hợi. Tuổi Hợi, theo sách tử vi là tuổi an nhàn, hưởng bổng lộc nhưng đối chiếu lại cuộc đời của ba tôi là những lo toan và vất vả. Xin một chút nói qua về gia đình ông bà nội tôi trước …

Ông bà nội tôi sinh được năm người con, hai trai, ba gái. Ba tôi là người con thứ ba, người anh cả là bác Lê Văn Vấn, rồi đến cô Lê Thị Ba, đến ba tôi và sau là hai cô Lê Thị Loan và cô Lê Thị Hồng. Ông bà nôi tôi có quan tâm đặc biệt đến ba tôi nhất vì ông là người chịu khó học hành nhất trong những người con.

Bác cả Vấn của tôi, theo kể lại, là người đẹp khoẻ, nguyên là lính cận vệ của vua Bảo Đại, vị vua cuối cùng của triều đình nhà Nguyễn. Về sau, bác Vấn bỏ ra chiến khu tham gia phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp, nắm chức Trung đội trưởng Trung đội Cao Thắng. Trong một trận chiến kịch liệt vào năm 1952, đội quân của bác Vấn phải chạy thoát trong khu rừng rậm thuộc tỉnh Tuy Hòa lúc đó và cuối cùng chết vì kiệt sức. Bác Vấn tôi chết lúc còn độ tuổi thanh xuân, 23 tuổi, chưa có vợ con và đến nay hoàn toàn mất dấu mộ phần. Khoảng vài tháng sau, tin tức về sự hy sinh của bác Vấn mới bay về Huế, đến nhà ông bà nội tôi trong một buổi sáng. Bà nôi tôi ngất xỉu khi nghe tin dữ. Kể từ ngày đó mắt bà nội tôi yếu dần do thương khóc con và bà nội tôi quyết định xuống tóc đi tu tại nhà, quanh năm bận áo nâu sồng, bà ăn chay định kỳ cho đến lúc chết vào tuổi 90. Ông nội tôi, khi biết tin con trai mình thì lặng lẽ hơn, ông không khóc và chỉ nói nhỏ: "Thôi, con chết vì tổ quốc cũng được". Thế mà, đêm đó mọi người trong nhà bật dậy khi bất thần nghe ông nội tôi khóc con thảm thiết. Tiếng khóc trong đêm thật não lòng mọi người.

Cái chết của người anh cả khiến ba tôi trở thành người con trai duy nhất của cụ ông Lê Văn Cảnh và cụ bà Nguyễn Thị Giỏi. Nghe các cô kể lại, ngày xưa ba tôi rất chịu khó giúp đỡ cha me, học hành rất cần cù và nghiêm khắc trong dạy dỗ các em. Cha tôi học Trung học tại trường Quốc học Huế. Sau khi có bằng Tú tài, ba tôi thi đậu vào trường Sư phạm Huế. Ông bà nội tôi mừng lắm, ông làm một bữa cúng tạ ơn Trời Phật và đãi nhiều người trong làng. Thời ấy, thi đậu vào trường Sư phạm Huế khó lắm và có người con thầy giáo quả là một niềm hãnh diện và đáng được kính trọng trong suy nghĩ của người dân. Sau khi ra trường, ba tôi gặp me tôi, me tôi lúc trước là nữ sinh trường Trung học Đồng Khánh, Huế, sau cũng thi đậu vào trường Sư phạm và sau đó hai người thành hôn vào đầu năm 1959 tại Huế.

Cha me tôi nhận được sự bổ nhiệm dạy học tại Quảng Ngãi vào năm 1959, một tỉnh nghèo nhất miền Trung Việt Nam. Cha tôi là Giáo sư trường Trung học Trần Quốc Tuấn (thời ấy, các thầy giáo Trung học đều được gọi là Giáo sư, thầy giáo Đại học được gọi là Giảng sư), ông phụ trách hai môn Vật lý và Hóa học, kiêm trưởng phòng thí nghiệm Lý Hoá của nhà trường. Me tôi dạy học tại trường Tiểu học Sơn Tịnh, một huyện miền sơn địa của tỉnh Quảng Ngãi. Tháng 9 năm 1960, hai người có đứa con đầu tiên là tôi. Tôi sinh ra khi mới được 7 tháng tuổi thai, nghĩa chỉ là một đứa bé sinh non, yếu ớt. Nơi tôi ra đời, nằm dưới chân núi Thiên Ấn, nơi gần con sông Trà Khúc chảy qua. Ngày ấy, cha me tôi khá vất vả để nuôi nấng tôi vì tôi đau ốm liên miên. Bà nội tôi, từ Huế phải đáp xe lứa vào nuôi tiếp để ba me tôi có thể đi dạy (thời đó, công chức chỉ được nghỉ sinh 3 tháng). Khi mới ra đời, tôi bị cô đỡ lỡ tay làm nhiểu một giọt chất sát trùng có tính acid làm bỏng cháy da dầu, lòi cả sọ. Đến nay, vết thẹo vẫn còn. Khi chưa tròn đầy năm, tôi bị nổi một mụt nhọt to sau lưng khiến tôi phải nằm sấp, suốt đêm đau khóc, không ngủ được. Khi bắt đầu biết lật, tôi ngã từ trên gường xuống đất gãy xương vai. Thấy tôi khó nuôi, bà nội tôi phải ẵm tôi mang ra Huế để chăm sóc, tôi phải xa cha me và sống với ông bà nội từ lúc ấy. Một nguyên nhân khác, ngày đó, huyện Sơn Tịnh, nơi me tôi dạy học là một vùng "xôi đậu", "ban ngày Quốc gia, ban đêm Việt Cộng". Chiến tranh liên miên và tàn khốc. Cha me tôi cũng không muốn tôi dính vào làn tên mũi đạn vô tình …

Me tôi kể lại, cha tôi sống rất thanh bạch và kỷ luật với chính mình. Ngoài giờ dạy học, ông thường đọc sách, làm việc nhà, chơi thể thao và tìm cơ hội giúp đỡ người khác. Ông không uống rượu, không hút thuốc, không cà phê, chỉ có uống một chút trà với khách và bạn bè thôi. Ông ghét thói dối trá và tham lam. Cũng như tất cả đàn ông thanh niên thời chiến, năm 1963, cha tôi đăng lính nhập ngũ dù đang là một thầy giáo. Ông trở thành một tân binh của Trường Sĩ quan Dự bị Thủ Đức. Sau 9 tháng huấn luyện, ông được đóng lon Chuẩn úy và nhận Sự vụ lệnh về công tác tại Qui Nhơn. Lúc đầu, người ta định ông vào một đơn vị Quân cảnh do ông có chiều cao xấp xỉ 1,7 m to lớn, tính tình nghiêm nghị. Nhưng sau, ông xin qua ngành Tiếp vận do có trình độ và khả năng tính toán điều phối kế hoạch tiếp tế cho đơn vị ở vùng II. Sau ngày 1/11/1963, TT. Ngô Đình Diệm bị lật đổ, ba tôi trở lại nghề đi dạy học và được bổ nhiệm về trường Trung học Cường Để Qui Nhơn, trường công lớn nhất Qui Nhơn. Năm đó, tôi được gởi vào một trường Nhà dòng của người Pháp để sống. Lúc ấy, tôi phải học tiếng Pháp, đọc kinh cầu Chúa bằng tiếng Pháp mỗi ngày. Khi về Qui Nhơn, ba me chúng tôi đã có hai đứa con, tôi và em Chi Lan (sinh 1961). Sau này, chúng tôi có thêm em Quân (sinh 1963), em Vũ (sinh 1965) và em Chi Minh (sinh 1969). Me tôi cũng xin Ty Giáo dục cho vào Qui Nhơn theo chồng. Bà dạy tại trường Tiểu học Ấu Triệu và trở thành Hiệu trường trường này sau khi hoàn tất chương trình Giáo học Bổ túc tại trường Sư phạm Vĩnh Long và sau cùng làm Thanh tra Giáo dục Qui Nhơn. Về trường Trung học Cường Để Qui Nhơn, ba tôi dạy cả ba môn Toán, Lý, Hóa và về sau ông lên làm Tổng Giám thị của Nhà trường. Ông nổi tiếng vì sự liêm khiết và kỷ luật với học sinh. Có một lần, trong kỳ thi Tú tài, ba tôi bắt gặp một thí sinh mang sách vào phòng thi, ông lập tức lập biên bản đình chỉ người thí sinh này. Ngờ đâu, người thí sinh này là con trai của một ông sĩ quan lớn tại Qui Nhơn. Dù bị áp lực, ba tôi vẫn bình tĩnh, không nao núng và tiếp tục xử lý việc gian lận này.

Tết năm 1968, me và anh em tôi ra Huế và bị kẹt lại trong biến cố Tết Mậu Thân, dù còn nhỏ, tôi vẫn nhớ sự kinh hoàng và khốc liệt của chiến tranh. Đi đâu cũng nghe tiếng đạn nổ, người chết la liệt. Chúng tôi chạy từ Huế ra Đà Nẵng và sống dưới hầm cả tháng trời. Sau biến cố, cả thành phố Huế  đều nhuốm màu tang tóc với những nấm mồ chôn tập thể ... Cha tôi lúc đó đã trở lại quân đội với chức vụ Trung Úy, phụ trách chỉ huy Tiếp vận cho vùng II chiến thuật. Cha tôi nắm trong tay hàng loạt kho hàng, xăng dầu, đồ quân tiếp vụ,… nhưng tuyệt nhiên ông không hề mảy may thậm lạm. Tôi vẫn nhớ, ba tôi thường dạy chúng tôi là thà mình nghèo nhưng trong sạch chứ lấy của cải của người khác, lấy của chung là tội lỗi và xấu xa.

Tôi còn nhớ, Qui Nhơn ngày ấy còn hoang vắng lắm, cả thành phố chỉ có mấy dãy phố lèo tèo, sau biến cố Mậu Thân, cảnh tượng càng hoang tàn. Trường Trung học Cường Để lúc đó cũng chỉ mấy dãy nhà học và một hội trường. Ba tôi kêu bác lao công nhà ở đầu cổng trường, kiếm các cây xanh trồng chung quanh và giữa sân trường đề có thêm bóng mát và dặn bác phải chăm tưới, săn sóc hằng ngày. Ông liên hệ bên quân đội xin mấy cuộn kẽm gai và sắt "ấp chiến lược" để rào chung quanh các cây xanh cho trẻ con khỏi phá. Sau này, các buổi sinh họạt học sinh, các nhóm hướng đạo sinh họp mặt hồi ấy đều diễn ra dưới các bóng cây xanh này...

Năm 1972, chiến tranh tiếp tục lan rộng. Mùa hè đỏ lửa. Qui Nhơn bị pháo kích dồn dập. Gia đình tôi chạy theo đường bộ vào Nha Trang và sau đó tiếp tục vào Sài gòn. Cha tôi vẫn phải ở lại Qui Nhơn, ông không thể bỏ đơn vị, đồng đội mà chạy loạn theo vợ con được. Việc học hành của chúng tôi bị gián đoạn liện tục. Năm ấy, tôi học xong lớp 7 và thi đậu vào trường Kỹ thuật Qui Nhơn nhưng không học đuợc vì gia đình phải di tản vào Nam.

Năm 1973, gia đình tôi chuyển hẳn vào Cần Thơ. Ba tôi dạy Toán tại trường Trung học Tổng hợp Phan Thanh Giản, me tôi dạy học tại trường Tiểu học An Hòa. Ba me tôi mua được căn nhà trên đường Hai Bà Trưng (sau này là số 140 đường Cách mạng tháng 8, thành phố Cần Thơ). Dù đã có bằng Cử nhân Lý Hoá, nhưng khi vào Cần Thơ, ba tôi ghi danh học thêm chương trình Đại học Văn Khoa và Luật khoa tại Đại học Cần Thơ và đã học đến năm thứ 2 vào giữa năm 1975. Ông cũng là người đều đặn cùng tôi, hai cha con, học Anh văn tại Hội Việt - Mỹ (bây giờ là nơi Bảo tàng Cần Thơ trên đường Phan Đình Phùng). Ban đêm, tôi vẫn thấy ông đọc truyện hoặc sách tiếng Pháp. Có thể nói, giai đoạn từ 1973 - 1975, cuộc sống gia đình của tôi tạm thời yên ổn và việc học của chúng tôi không bị gián đoạn.

 

Ngày 19/1/1974, Trung cộng cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa. Tổng cộng 58 chiến sĩ Hải quân Việt Nam hy sinh trong trận hải chiến này. Lúc ấy, toàn các tỉnh thành miền Nam sôi sục biểu tình chống sự xâm lược của Trung Cộng. Hai cha con tôi đều có mặt trong đoàn biểu tình của học sinh tại Cần Thơ…


Từ đầu tháng 4/1975 trở đi, tình hình chính trị và quân sự ngày càng biến động. Nhiều người tính chuyện di tản ra nước ngoài. Họ có đến rủ ba tôi cùng đi, nhưng sau nhiều suy nghĩ, ông quyết định ở lại. Tôi còn nhớ lúc đó, ông nói: "Tôi hy vọng là chiến tranh sẽ chấm dứt, hòa bình sẽ đến và người Việt Nam hết hận thù và hòa hợp". Vậy là gia đình tôi ở lại …

Sau ngày 30/4/1975, ba tôi phải ra trình diện Ủy ban Quân quản vì ông vẫn mang lon Trung úy Biệt phái. Tất cả các thầy giáo ở các trường  Tiểu học, Trung học và Đại học Cần Thơ có dính dáng đến quân đội và chính quyền Sài gòn ở Cần Thơ đều tập trung tại trường Trung học Phan Thanh Giản. Ngoại bất nhập, nội bất xuất. Lúc đó mọi người nghe thông báo chỉ tập trung quần áo và thức ăn ba ngày để học chính trị nhằm biết đường lối và chính sách của Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam. Thế nhưng, ba ngày trôi qua vẫn không thấy người nào về nhà, thế là mọi người bảo nhau, chắc học thêm một tuần. Rồi một tuần trôi qua, người ta lại lo âu, đoán già đoán non, chắc là một tháng là cùng. Vậy là ba tôi bị bắt nhốt rồi sao? Người này hỏi người kia và không ai có được một câu trả lời rõ ràng. Me tôi và tôi lang thang dọc theo tường rào của nhà trường, hy vọng sẽ gặp khuôn mặt của ba tôi xuất hiện đâu đó trong một phòng học, nhưng đều vô vọng và bị cảnh vệ đuổi đi. Không ai có thể gởi thư liên lạc với người đang ở trong Trường. Một buổi sáng thức dậy, tôi nhận được một mảnh giấy gấp nhỏ của một bác xe lôi tốt bụng nào đó lượm được và mang đến nhà tôi. Trong thư là nét chữ của ba tôi báo lại là toàn bộ anh em thầy giáo đã bị chuyển về Trung tâm Huấn luyện Chi Lăng, miệt Tịnh biên, Châu Đốc, sát biên giới Campuchea, một nơi rất xa lạ với chúng tôi thời ấy. Chuyến đi tiến hành ban đêm … Cha tôi nói mọi người ở nhà cứ yên tâm và cố gắng giữ gìn sức khoẻ, đừng có liều lĩnh đi Chi Lăng thăm nuôi. Tờ giấy đó lúc đó phải hủy đi vì chúng tôi rất lo sợ có người biết ba tôi đã lén ném thư thông báo. Sau này, tôi tiếc mãi khi không còn giữ được chứng tích này của người.

Cuộc sống sau 1975 cực kỳ khốn khổ, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, cả một xã hội thiếu thốn trăm bề. Năm ấy tôi tròn 15 tuổi và tôi đã quyết định đi làm kiếm tiền giúp me và nuôi em. Cùng một người bạn thân, tôi xin làm một công nhân bốc xếp cho Cục Hậu cần Quân khu 9. Công việc thường ngày là thu dọn các kho bãi, bốc gạch, khiêng các bao xi-măng, tole fibro, dỡ các khu nhà gỗ tiền chế. Việc làm rất nặng nhọc và nguy hiểm cho một đứa bé 15 tuổi như tôi. Môi trường làm việc độc hại, chung quanh tôi là những người công nhân lầm than, gần như dưới đáy xã hội, người tốt có mà người xấu cũng nhiều, trong họ có những kẻ lưu manh, chuyên rình rập thừa cơ hội là móc ngoặc với cán bộ trong doanh trại quân đội ăn cắp hàng hóa, đồ quân dụng, trang thiết bị nhà xưởng, … ra bán chợ trời. Tiền kiếm được, chúng đổ vào các trận nhậu, cờ bạc và đôi khi tìm gái điếm hành lạc. Điều ngạc nhiên là tôi và Luận, người bạn chí thân, lại không tiêm nhiễm vào các tệ nạn như vậy. Chúng tôi hai đứa chí thú làm việc, an phận với mức lương công nhật 1 đồng một ngày lúc đó. Lúc rãnh rỗi chúng tôi đem sách vở, các bài toàn ra giải mặc cho nhiều người dẻ bỉu là thời bây giờ mà học hành làm quái gì…??? Luận sau này cũng thi đậu vào Đại học như tôi, Luận học Sư phạm toán và ra trường về dạy ở trường Trung học Long Phú, Sóc Trăng. Trong ý thức mơ hồ tập trung cho cái học như vậy, theo tôi, chính là do nề nếp, truyền thống giáo dục gia đình mà tiêu biểu là cha me tôi. Tôi nhớ, có lần một bà hàng xóm, vợ một ông Trung Tá chế độ cũ, sợ nhà bị "kiểm kê", bà có gởi gia đình tôi một bọc vàng và ngọc đủ loại. Me tôi cất đi và sau này trả lại cho bà này đầy đủ, không mất một chỉ vàng nào. Dù bà này có ý muốn hậu tạ, nhưng gia đình tôi không nhận.

Cuối cùng ba tôi cũng được trả về sau khi me con tôi là viết bao nhiêu lá đơn khẩn khoản gởi đủ các nơi. Các năm học đầu sau 1975, các trường đều thiếu giáo viên nghiêm trọng và các giáo viên đang học tập cải tạo được trả về giảng dạy. Tôi còn nhớ, ngày đó me tôi và tôi thức dậy rất sớm, đi lên một nơi tập trung gần Bình Thủy để đón ba tôi về. Gần đến giữa buổi sáng, ba tôi và các thầy giáo khác bước xuống từ các xe GMC nhà binh. Nhiều người chợt bật khóc, vì sau bao ngày mới gặp lại người thân. Cha tôi ốm, đen và  hộc hác thấy rõ nhưng niềm vui được sum họp gia đình làm mọi người mùng rỡ. Sau khi nghe các huấn thị của cán bộ và nghe danh sách tên người được trả về, ai nấy đều hồi hộp. Có người bị lọt khỏi danh sách, họ xanh mặt thất thần phải quay về trại rất đáng tội nghiệp. Ba tôi có tên trong số người được trả về. Chúng tôi mừng mừng tủi tủi cho ngày đoàn tụ.

Có một chuyện kỳ lạ mà tôi cũng phải kể ra đây kẻo sau này quên mất. Ba tôi kể lại, một tuần trước khi ông được thả, sau một ngày lao động nặng nhọc, tối đó ba tôi nằm mộng thấy một ngừoi đàn bà áo trắng, tóc dài đến báo tin là ba tôi sẽ được thả ra vào thứ ba tuần sau (ngày thì tôi nhớ không chính xác). Thức dậy, ông kể lại giấc mơ của mình cho bạn cùng phòng nghe. Mọi người cười nhạo bảo cha tôi mong về quá nên nằm mơ vậy thôi. Nhưng, ba tôi thì lại tin người đàn bà áo trắng này, vì đã có mấy lần ba tôi đã được người này báo mộng và linh ứng. Lúc em gái tôi, tên là Chi Lan, mới sinh ra ở Quảng Ngãi, hồi đó me tôi thiếu sữa phải cần nuôi một bà vú và nhờ người tìm giúp. Đêm đó, ba tôi có năm mơ thấy người đàn bà áo trắng, tóc dài đến báo mộng là trưa mai sẽ có một người đến xin ở làm vú nuôi nhưng đừng nhận người này. Lúc đó, ba tôi cũng không tin và quên câu chuyện nằm mơ đi. Sáng hôm sau, ông đi dạy sớm, đến trưa lúc về đến nhà, thấy có người đàn bà đang ngồi trong phòng khách cùng bà nội và me tôi. Bà này đến xin làm vú nuôi và me tôi cũng đã đồng ý. Ba tôi sực nhớ đến giấc mơ, nửa tin nửa ngờ, sau ông quyết định từ chối. Sau này, dò la tin tức về thân thế người phụ nữ này, ba me tôi mới giật mình khi nghe tin bà này có một đứa con mới bị chết và bà ta đang ở tình trạng nửa tỉnh nửa điên. Nếu đã nhận người đàn bà này nuôi trong nhà, khi ba me tôi đều đi dạy học vắng cả thì em Chi Lan sẽ ra sao khi bà vú bất chợt nổi điên vì nhớ đứa con đã chết …? Hiện tượng này thỉnh thoảng lại xảy ra và ứng nghiệm khiến ba tôi dần dần tin vào bóng người trong mộng. Trở lại câu chuyện trong trại cải tạo của ba tôi. Khi nghe tin báo mộng được về như vậy, ba tôi vẫn phải lao động hàng ngày, ông ở trong Tổ Mộc - Nề vì cũng biết chút đỉnh về xây dựng, ngày qua ngày, ngày làm việc tối học chính trị, cho đến ngày thứ ba theo giấc mộng mà chẳng thấy thông tin báo cho về gì cả. Mọi người tiếp tục cười chọc cha tôi. Vậy mà chỉ ba ngày sau, mọi người được cán bộ gọi lại tập hợp báo tin được khoan hồng cho về, và khi xem lại giấy quyết định, mọi người mới ngã ngữa ra: ngày ký quyết định đúng như ngày mà trong giấc mơ đã báo !!! Câu chuyện chưa hết. Vài ngày sau khi ba tôi được trở về với gia đình, ba tôi viết thư báo tin cho ông bà nội tôi biết (thư thời đó đi lâu lắm, từ Cần Thơ gởi ra Huế, đôi khi mất nửa tháng, nếu ở Huế có nhận được thư và trả lời lại thì cũng gần một tháng sau). Vậy mà sau một tuần gởi thư đi, gia đình tôi nhận được một lá thư từ Huế, trong thư bà nội tôi hỏi có phải ba tôi được ra khỏi trại rồi phải không? Vì bà nội tôi, trước đó, đã được người đàn bà áo trắng (cũng người đàn bà áo trắng như vậy) báo tin trong giấc mộng là con bà sẽ được trở về nhà !!! Ba mẹ tôi hoàn toàn kinh ngạc với sự kiện này. Chuyện tâm linh khó mà ngờ được …

Ba tôi trở về gia đình, cuộc sống vẫn tiếp tục khó khăn và ngày càng khó khăn. Gạo cung cấp theo khẩu phần, chế độ tem phiếu được áp dụng. Chiến tranh biên giới Tây Nam với giặc Khmer Đỏ nổ ra, ở phía Bắc, Trung Cộng tấn công 6 tỉnh biên giới của Việt Nam, ngày càng nhiều người vượt biển bỏ đất nước ra đi, cơn lũ quái ác năm 1978 ở Đồng bằng sông Cửu Long làm lương thực thêm khan hiếm. Ba tôi vẫn buộc anh em chúng tôi tiếp tục học tập cho đàng hoàng. Chúng tôi làm thêm đủ việc để kiếm miếng ăn, ba tôi ngoài giờ dạy, phải chạy xe đạp ôm, tôi cũng vậy và nhận làm đủ thứ việc, từ dạy kèm, bửa củi, chạy xe ôm, bốc xếp, đến làm rẫy, … Tôi không bao giờ quên những thằng bạn thân thiết cùng khổ với tôi hồi đó, như Nguyễn Văn An (hiện nay đang là một Giám đốc Công ty Máy tính ở Mỹ), Đỗ Công Luận (hiện đang dạy Toán ở Sóc Trăng), Nguyễn Đình Phúc (do quẩn trí đã tự sát chết vào năm 1983), … Mẹ tôi và Chi Lan bán chè, cà phê, nước trái cây buổi tối. Vì thiếu đất canh tác, trên mái nhà của gia đình, chúng tôi đổ đất trồng thêm rau cải, bầu mướp, … Điều đáng mừng là anh em tôi học hành tốt cả, các anh em lần lượt thi đậu vào Đại học và Cao đẳng. Vũ thi đậu vào ngành Điện tử, Đại học Bách khoa với điểm cao và được chọn đi du học ở Đông Đức. Đó cũng là thành quả và sự hãnh diện của ba me tôi dù cuộc sống rất nhiều vất vả.

Năm 1983 năm Quí Hợi, ba tôi được 49 tuổi ta, bốn chín chưa qua, năm ba đã tới. Người ta, nói năm tuổi này là năm hạn của đời người. Một buổi sáng mùa hè năm đó, sau khi đi gác thi hết năm học hôm trước, ba tôi thức dậy, tự nhiên thấy mắt mình bị lòa, nhìn một vật thành hai, cổ họng cảm thấy khó nuốt. Lúc đầu, ông chỉ nghĩ mình bị viêm cảm gì đó nhưng tình trạng ngày càng tệ hại. Tôi đưa ba tôi bằng xe lôi vào bệnh viện 30/4, rồi bệnh viện Đa khoa Cần Thơ, gặp các bác sĩ người Huế quen thân nhờ chẩn đoán, tôi thấy họ thì thầm với nhau bằng tiếng Pháp ra vẻ nghiêm trọng. Đoán thấy vấn đề bất ổn, tôi hỏi ý kiến thì họ khuyên nên đưa ngay lên Sài gòn. Chúng tôi chạy vạy và nhờ sự giúp đỡ của máy người bác sĩ này, một chiếc xe cứu thương được điều động để đưa bệnh nhân lên đường với điều kiện gia đình phải trả tiền xăng nhớt. Tôi đồng ý hết. Lúc xe cứu thương chuyển bánh đưa ba tôi đi trên một chiếc băng ca, bất ngờ một ly nước trong xe bỗng bể tan. Điềm xấu chăng ? Có lẽ vậy, vì hôm đó là lần ra đi cuối cùng của ba tôi, mãi mãi không bao giờ ông thấy ngôi nhà thân yêu của mình nữa, mãi mãi không còn ngồi bên mâm cơm với gia đình và mãi mãi không con gặp lại chú mèo mướp mà mỗi khi ông đi dạy về nó chạy ra, cọ mình vào chân ông để nhận lại vài cái vuốt ve, mãi mãi không còn nữa, …

Cha tôi bị u não ác tính, khối u phát triển rất nhanh trong đầu, chỉ trong hai ngày ông suy sụp nhanh chóng, không ăn uống được, thở khó khăn và dần dần bị liệt hô hấp. Bệnh viện Chợ Rẫy quyết định cắt khí quản để ông thở bằng bong bóng khí và bằng máy. Tôi đứng ra thay mặt gia đình ký giấy đồng ý cho mổ va chấp nhận mọi rủi ro. Sau một đêm hôn mê, ba tôi tỉnh dậy, ông không còn nói được nữa và ra dấu muốn viết. Tôi đem đến cho ông quyển sổ tay mà tôi hay mang theo bên mình để ghi chép. Ông muốn biết tình trạng của mình, mô tả tâm trạng trong người và hỏi tin về đứa con đang ở Hà Nội. Lúc đó Vũ đang thi tiếng Đức để chuẩn bị du học và hoàn toàn không biết tin gì về ba của nó, vì tôi nhất định dấu không cho Vũ biết. Ba tôi hỏi bàn chải đánh răng để ở đâu để ông làm vệ sinh mình. Sau đó, ba tôi trở lại cơn hôn mê và tay chân lạnh dần. Tôi gặp một đứa bạn, tên Nghĩa, đang học y khoa và tập sự trong Bệnh viện Chợ Rẫy. Nghĩa cho tôi mượn bộ đồ bác sĩ của nó, để tôi có thể đi vào phòng Săn sóc Đặc biệt bên cha tôi. Tôi hỏi thật về tình trạng của ba tôi, Nghĩa xem kỹ và nói tiên lượng khá xấu, có thể ông sẽ đi trong đêm nay. Tôi chợt hiểu, đây là những giờ phút cuối cùng của ba tôi. Tôi quyết định báo cho me tôi biết sự kiện này, dù lúc đó me tôi cũng đang bị huyết áp nặng. Tôi rờ người ba tôi thấy lạnh dần, mặt trở nên xanh xám, mạch càng ngày càng yếu, huyết áp giảm nhanh, đồng tử con ngươi dãn dần, … cha tôi đang đi dần dần vào cái chết.

Không hiểu sao lúc đó tôi trở nên bình tĩnh lạ thường. Tôi nhờ đứa bạn, cô Hồng và bà ngoại chăm sóc cho mẹ tôi và coi chừng ba tôi. Lúc đó đã ba giờ sáng, suốt năm ngày liền tôi không hề ngủ, chỉ có lúc như mê dại đi, tôi mượn xe đạp chạy đến nhà chú Thước, cậu Lộ, cậu Mẫn báo tin và viết giấy để lại căn dặn mọi nguời. Sau đó, tôi tức tốc chạy ra bến xe Xa cảng Miền Tây nhảy lên chiếc xe đò về Cần Thơ sớm nhất để báo tin cho các em tôi, dì Linh Chi biết chuyện và thu xếp mọi chuyện trong nhà. Các em tôi khóc oà khi nghe tin ba tôi đã chết. Tôi hối thúc mọi người trở lên Sài gòn. Đến Sài gòn, tôi chạy ngay vào Bệnh viện Chợ Rẫy, Nghĩa tôi báo lại là mọi người đã đưa xác ba tôi về Chùa Vĩnh Nghiêm.Chạy đến Chùa thì ba tôi đã nằm yên trong quan tài, khuôn mặt như đang ngủ. Tôi vuốt mắt cho người lần cuối, thấy đau đớn trong lòng khôn xiết nhưng không sao khóc được. Gia đình tôi lúc đó nghèo đến độ, tôi không tính chuyện mang thi hài ba tôi về quê mà phải chôn laị ở Thủ Đức. Đám tang của cha tôi lặng lẽ trong một buổi sáng mưa nhẹ, chúng tôi thẫn thờ đi sau linh cửu và đưa về Nghĩa trang Gò Dưa. Me tôi và các em như muốn lả đi khi những năm đất cuối cùng lấp kín quan tài. Cuối cùng, thì mọi người cũng phải về. Tôi ngồi lại, một mình bên nấm mồ mới đắp sơ sài. Tôi tự hiểu, bây giờ và mãi mãi về sau tôi không bao giờ thấy được hình bóng người yên lặng in trên bóng chiếc đèn dầu mỗi đêm mất điện, không bao giờ thấy người gò lưng trên chiếc xe đạp ngược gió để chở khách kiếm thêm tiền, không bao giờ nghe người giảng cho bài toán hình học không gian với cái hình kim tự tháp nữa...

Ba tôi ra đi ngày 13 tháng 5 âm lịch năm Quí Hợi. Ngày sinh dương lịch và ngày tử âm lịch trùng nhau. Người sống trọn vẹn chỉ bốn con giáp. Người gần như chưa hưởng được gì từ con cái. Mộ của ba tôi năm ở một vùng hoang vắng, giữa những người xa lạ, không cha mẹ, bà con, bạn bè chung quanh. Bà nội tôi, lại một lần nữa ngất xỉu khi nghe người con trai thứ hai của mình chết đi. Ông nội tôi, giống như hồi bác Vấn chết, ông không nói gì cả, không khóc than gì cả, nhưng về đêm trong giấc ngủ ông bậc khóc thảm thiết khi nhớ đến người con của mình phải tha phương cầu thực ở nơi xa lạ, lúc chết đi cha mẹ không thấy mặt. Vài năm sau, ông bà nội tôi lần lượt qua đời, bà mất trước ông, thọ 90 tuổi, ông mất năm 92 tuổi. Mộ ông bà nằm bên nhau, trên một khu gò lộng gió của ngọn núi Ngự Bình. Cả hai đều nhiều lần khuyên con cháu nên ở hiền gặp lành. Gần như cả đời, chưa bao giờ ông bà ăn gian nói dối với ai một lần nào. Ông bà có hai người con trai, cả hai đều là niềm tự hào thật sự của ông bà, cả hai đều qua đời trong thương tích, bệnh tật và cả hai đều không thấy mặt cha mẹ của mình lần cuối cùng trong đời, lá vàng chưa rụng, lá xanh lìa cành...

Kỷ niệm ngày giỗ thứ 20 của ba …
Lê Anh Tuấn (viết tại Delft, Hà Lan, Hè 2003)
 
Các Thầy Cô của trường Trung học Trần Quốc Tuấn - Quảng Ngãi, niên khóa 1959 - 1960
Ba tôi là người đứng ở vị trí thứ tư từ trái qua, hàng đầu tiên
 

Thầy Lê Văn Hà trước cổng trường Trung học Trần Quốc Tuấn - Quảng Ngãi (1960)
 
 
Sân trường Trung học Cường Để Qui Nhơn ngày xưa...
Nơi Ba tôi đã dạy học từ 1963-1973
Hàng cây trong hình là những cây xanh do Ba tôi trồng cho học sinh có bóng mát
 
 
Gia Ðình c?a Tu?n
Cây Xương Rồng & các Cây Mọng Nước
Kỹ Thuật Thủy Lợi & Môi Trường
Phát Triển Cộng Đồng Nông Thôn
Diễn Đàn Văn Hóa & Xã Hội
Giải Trí
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Cập nhật ngày 6 tháng 4, 2004

Các góp ý xin gởi e-mail về latuan@ctu.edu.vn

Trường Đại Học Cần Thơ Lê Anh Tuấn's Home Page