Chào Bạn Đến Với Trang Web Của Tuấn
Luận bàn về NƯỚC
Lê Anh Tuấn
Đại học Cần Thơ

Nước là nguồn sống cho tất cả …



1. NƯỚC TRONG TIẾNG VIỆT
Tiếng Việt của chúng ta rất phong phú, đa dạng, và đa nghĩa, … Một trong các từ ngữ gây nhiều thú vị là chữ NƯỚC. Tiếng Hán Việt, nước là QUỐC, là THỦY.
Nước là chữ để chỉ quốc gia: Nước Việt Nam. Quốc gia là tiếng Hán Việt , có nghĩa là Nước Nhà (Quốc = Nước, Gia = Nhà). Quốc ngoại là nước ngoài; Quốc nội là trong nước; Quốc sự là việc nước; Quốc hội là tổ chức Nhà nước, là nơi để họp bàn chuyện đất nước. Cứ như vậy, chúng ta sẽ hiểu thêm nghĩa của các chữ đi kèm chữ quốc. Lật các tự điển tiếng Việt, có thể đếm trên 100 chữ đi kèm với chữ quốc.

Đọc lịch sử Việt Nam, từ thời Vua Hùng dựng nước, đất của người Việt chúng ta có tên là Lạc Việt. Chữ Việt thì hầu hết mọi người trong chúng ta có thể chấp nhận là chữ chỉ dòng giống dân tộc người Việt. Thế còn chữ Lạc là gì? Có nhiều tranh cãi giữa các nhà sử học, ngôn ngữ học, dân tộc học, khảo cổ học, …

  • Có vị cho đó là tên con chim Lạc, con chim này được thể hiện trên trồng đồng Ngọc Lũ, hay cắt nghĩa theo sự tích Lạc Hồng, chúng ta là con cháu của Rồng, của Lạc. Vì vậy mới có chuyện bà Âu Cơ sanh ra 100 cái trứng, nở ra 100 người con: 50 người người con lên núi, 50 người con xuống biển. Chỉ có loài Rồng rắn, Chim chóc mới để ra trứng (?!).

  • Người khác cắt nghĩa vị vua đầu tiên của Việt Nam là Lạc Long quân, nên lấy tên nước là Lạc Việt, có nghĩa là nước Việt của ông vua họ Lạc. Cách cắt nghĩa này xem ra dường như chưa ổn lắm (?!).

  • Có tác giả tìm cách phân tích chữ Lạc theo tiếng Hán là . Chữ này ghép hai chữ mã và các, gọi là "Lạc bộ Mã". Đây là cách giải thích của một số sử gia Trung hoa. Họ xem nước Việt chúng ta thời xưa chỉ ở tầm một bộ lạc, thuộc loại "ưng, khuyển, mã" theo nghĩa miệt thị. Điều này cần phải bác bỏ vì thời Hùng Vương, tổ tiên chúng ta chưa thể dưới sự thống trị của nước Trung hoa và không ai đặt tên nước như vậy (?!).

  • Một số nhà ngôn ngữ học, cho rằng chữ LẠC là chữ cổ âm thuần túy của người Việt xưa, có nghĩa là NƯỚC. Cá nhân tôi ủng hộ quan điểm này. Ngày xưa, khi mới hình thành khái niệm quốc gia, ngưòi Việt sống tập trung ở vùng biên giới phía Bắc, ngôn ngữ thời ấy chắc chắn phải có gốc tích gần với ngôn ngữ các dân tộc trong khu vực này. Người dân tộc (người Mường, Mạ, Đạ, Koho, …) ở vùng này gọi NƯỚC là NÁC, hoặc ĐÁK. Đây là một sự biến đổi âm từ. N biến thành L và A, Á, À, Ạ… biến thành ƯƠ, ƯỚ, ƯỜ, ƯỢ… Chữ K và C thì cách phát âm giống nhau.

Kết quả NÁC thành NƯỚC.

Dẫn chứng:

* N -->? L: Nhiều vùng phía Bắc gần biển như dân ở vùng Hải Phòng, Hải Dương,… vẫn có giọng đọc N thành L, ví dụ "Hà Nội" thành "Hà Lội", "Lòng lợn luộc" thành "Nòng nợn nuộc", v.v…

* A -->? ƯƠ: Chữ A biến đổi thành chữ ƯƠ cũng khá nhiều như:
+ Tràng tiền = Trường tiền,
+ An khang = An khương,
+ Đang chức = Đương chức,
+ Lên đàng = Lên đường,
+ Một lạng vàng = Một lượng vàng …

* K -->? C: Chữ K (kờ) có cách đọc như chữ C (cờ) như:
+ Bắc Kạn = Bắc Cạn
+ Kách mệnh = Cách mệnh, cách mạng…

Tiếng Lào, tiếng Thái, chữ NẢM có nghĩa là nước. Tiếng nhiều người dân tộc phía Bắc và Tây nguyên, ĐÁK cũng để chỉ nơi có chứa nước. Nhiều địa danh được ghép với chữ ĐÁK như ĐakLak, Hồ Lak, …Đến đây thì chữ Nác đã thành Lak. Nhiều quốc gia trên thế giới cũng có cách gọi tên nước như vậy. Thailand là đất của người Thái. The Netherland là đất của vùng ngập nước, để chỉ dân Hà Lan sống nơi vùng đấp ngập nước, dưới hoặc sát mực nước biển (Nether có nghĩa là nước, theo tiếng Hà Lan). Với sự cắt nghĩa như vậy, tên nước Lạc Việt là nước Việt. Ngoài ra, tiếng Việt cổ còn những từ như:


+ Lạc điền = Ruộng nước,
+ Lạc thôn = Làng nước, …

 

Đàn chim bay quanh mặt trời trên mặt trống đồng Ngọc Lũ, mà ta hay quen gọi là đàn chim Lạc, có thể hiểu thành đó là đàn chim nước được không? Lưu ý rằng, người Việt chúng ta xưa nay vẫn có tập quán sinh sống, di chuyển và sản xuất theo các vùng có tập trung nước như sông suối, ao hồ, ruộng nước. Tổ tiên ta quen nhìn thấy đàn chim nước bay theo từng đàn nên đã thể hiện trên cái trống đồng của mình chăng?

2. NƯỚC TRONG THIÊN NHIÊN, SỰ SỐNG
Nước là chữ cũng chỉ Nước (Water), là một chất lỏng thông dụng, nước có cấu trúc liên kết gồm hai nguyên tử Hydro và một nguyên tử Oxy, theo nghĩa vật lý: "Nước là một chất lỏng không màu, không mùi, không vị, trong điều kiện tự nhiên, ở áp suất 1 asmosphere và nhiệt độ 4°C, nước có khối lượng riêng là 1000 kg/m3. Nước sôi ở nhiệt độ 100°C và đông đặc ở 0°C". Nước nguồn tài nguyên quí giá, các nhà khoa học đều đồng ý kết luận nước là sự sống của toàn bộ sinh vật trên trái đất. Nước hiện diện trên 3/4 diện tích bề mặt của trái đất (nếu người ngoài hành tính nhìn vào trái đất, thấy quả cầu bao bọc quanh là nước, có thể gọi là trái nước lắm chứ?). Tuy nước là chất lỏng phổ biến và thông dụng, nhưng ít ai biết nước có các tính chất khá đặc biệt, nhờ các tính chất chất này mà sự sống mới được duy trì và phát triển trên trái đất:

  • Nước là một dung môi vạn năng: Nước có thể hòa tan được rất nhiều chất, hơn hẳn các loại chất lỏng khác. Nước hòa tan được các chất khí, chất lỏng và chất rắn. Nhờ tính chất này mà khoáng chất và dưỡng khí mới có thể được cung cấp nuôi dưỡng các sinh vật và tế bào sống.

  • Nước có nhiệt dung lớn: Nước có khả năng hấp thu rất nhiều nhiệt lượng khi nóng lên và cũng tỏa ra nhiều nhiệt lượng khi lạnh đi. Khả năng này giúp sự cân bằng nhiệt lượng trên trái đất, giúp khí hậu ôn hòa hơn và tạo điều kiện tồn tại cho sinh vật.

  • Nước rất khó bay hơi: ở 20°C, muốn 1 lít nước bay hơi phải cần có 539.500 calori. Đặc tính này đã giúp cho sự sống không bị khô héo nhanh chóng dưới ánh nắng mặt trời, các nguồn nước không bị bốc hơi nhanh chóng, giúp sinh vật tồn tại và phát triển.

  • Nước lại nở ra khi đông đặc: Khi hạ nhiệt độ xuống dưới 4°C thì thể tích nước lại tăng thêm. Đến điểm đông đặc 0°C thì thể tích nước tăng lên 9% so với trạng thái lỏng, làm băng đá nổi lên mặt nước, nước có nhiệt độ cao hơn sẽ chìm xuống đáy giúp cho các thủy sinh vật phía dưới tồn tại. Lớp băng đá phía trên - có tính dẫn nhiệt rất kém - trở thành chiếc áo giáp bảo vệ cho sự sống phía dưới.

  • Nước có sức căng mặt ngoài lớn: Nhờ có sức căng mặt ngoài lớn nên nước có tính mao dẫn mạnh. Hiện tượng này có ý nghĩa rất lớn trong việc duy trì sự sống trên trái đất, nước từ dưới đất có thể thấm lên cao, đến từ tế bào thực vật trong cây cối. Trong cơ thể người và động vật, máu và dịch mô vận chuyển được đến từng cơ quan nội tạng cũng nhờ tính mao dẫn của nước hiện diện 90% trong máu.

  • Nước có khả năng tự làm sạch: Nước trong quá trình vận chuyển trong thiên nhiên có khả năng tự làm sạch các chất chứa trong nó, loại bỏ chất bẩn, làm cho môi trường sinh thái được cải thiện. Tuy nhiên khả năng này cũng có giới hạn, nếu nguồn ô nghiễm lớn hơn khả năng tự làm sạch thì nước trở nên bị ô nhiễm gây tác động xấu cho sự sống.

3. NƯỚC TRONG SẢN XUẤT, NGHỀ NGHIỆP
Nước liên quan đến nhiều ngành nghề. Trong tiếng Hán Việt, nước là THỦY . Thủy còn có nghĩa là căn nguyên (nguyên thủy, thủy căn, thủy tổ…), như một sự công nhận nước là nguồn gốc ban đầu. Thủy là một trong năm Ngũ hành (Kim, Thủy, Hỏa, Mộc và Thổ), theo quan niệm âm dương, lý số, nguồn tự nhiên và các mối quan hệ của nó.

Thủy học là môn học chuyên nghiên cứu về nước, thủy văn là sự ghi chép về nước. Môn này là môn đồng hành với môn Thủy lực, nghiên cứu các qui luật và phép tính liên quan đến sự đứng yên hoặc chuyển động của khối nước. Thiết bị thường dùng là thủy lượng kế, dụng cụ đo nước tại các thủy trực. Người kỹ sư thủy lợi sẽ các thiết kế và xây dựng công trình thủy (gọi tắc là thủy công) như công trình thuỷ nông, thủy điện, thủy cảng, cấp thủy, giao thông thủy (thủy lộ), … Trong sản xuất, thủy sản là ngành chuyên nghiên cứu các loại cá tôm, thủy thực vật khác nhau; môn học cần phải có cho ngành là thủy sinh, nghiên cứu các sinh vật trong nước. Ngành thủy lâm học lại chuyên về các loại rừng ngập nước. Trồng trọt không cần đất, chỉ sử nước như là môi trường cung cấp dưỡng chất cho cây gọi là thủy canh. Trong y học, có phương thức trị liệu bằng nước gọi là thủy liệu pháp. Bệnh thủy đậu tạo các mụn bọc nước gây mất thẩm mỹ trên mặt người bệnh. Phương Tây đang phát triển phương pháp giúp cho bà mẹ sanh dưới nước, phương pháp này khá mới ở nước ta, có người đề nghị dùng chữ thủy hộ sản (?).

Người làm nghề đánh bắt thủy sản, theo các con tàu lênh đênh trên sông biển, gọi là thủy thủ. Các thủy thủ cần phải biết cách đọc thủy đồ. Ghi lại hành trình cho các tàu thủy gọi là nhật ký thủy trình, hải trình. Nếu chẳng may, bị rủi ro qua đời trên biển, các thủy thủ có nghi thức thủy táng: thả thi hài người chết xuống biển. Quân đội chiến đấu trong vùng nước gọi là thủy binh hay thuỷ quân, thuỷ quân lục chiến, được tổ chức theo từng thủy đội, tàu thủy còn gọi là thủy xa, có gắn thủy lôi. Người đứng đầu thủy quân thường là một vị thủy sư đô đốc. Lịch sử Việt Nam đã ghi nhận nhiều trận thủy chiến oai hùng trên sông Bạch đằng, Hương Đạo vương đại thắng quân Nguyên Mông nhờ ứng dụng qui luật thủy triều. Các đội binh xâm lược phương Bắc và phương Tây còn bị khó khăn khi thống trị nước ta do không hợp thủy thổ. Bọn trộm cướp vùng sông nước gọi là thủy tặc. Thiên tai liên quan đến nước gọi là thủy tai, thủy họa. Ngày xưa, người dân Việt làm nghề sông nước thường có lệ cúng vái thủy thần, thuỷ tề mong tránh được các loài thủy quái, thuỷ vương dưới nước.

Trong nghệ thuật, tranh thủy mặc được nhiều người yêu thích do có nét vẽ phóng khoáng, mô tả sông nước, núi non, cây cỏ, chim thú, con người. Một số họa sĩ lại thích vẽ tranh màu nước. Trong kiến trúc xây dựng, môn phong thủy đã và đang được chú ý trong việc vận dụng hài hòa thế nước và khí hòa hợp, đón lành tránh dữ. Ở Việt Nam, nhiều người đặt tên con gái với tên ghép chữ THỦY.

Vâng, tiếng Việt chúng ta còn nhiều chữ dính đến chữ NƯỚC lắm …

Lê Anh Tuấn


Gia Ðình c?a Tu?n
Cây Xương Rồng & các Cây Mọng Nước
Kỹ Thuật Thủy Lợi & Môi Trường
Phát Triển Cộng Đồng Nông Thôn
Diễn Đàn Văn Hóa & Xã Hội
Giải Trí
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Cập nhật ngày 12 tháng 3, 2004

Các góp ý xin gởi e-mail về latuan@ctu.edu.vn

Trường Đại Học Cần Thơ Lê Anh Tuấn's Home Page